Báo cáo chính trị của BCH Đảng bộ Khối khóa XIV trình Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XV – Bản tóm tắt

Thứ hai - 07/09/2015 00:05
ĐỔI MỚI, NÂNG CAO HIỆU QUẢ LÃNH ĐẠO, CHỈ ĐẠO CỦA BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ KHỐI; NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO, SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA CÁC TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG VÀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN NGANG TẦM YÊU CẦU NHIỆM VỤ, VÌ MỤC TIÊU XÂY DỰNG HÀ TĨNH PHÁT TRIỂN NHANH, BỀN VỮNG THEO HƯỚNG VĂN MINH, HIỆN ĐẠI


                                                                                                                   Đ/c Trần Thế Dũng
                                                                                                                               TUV, Bí thư Đảng bộ Khối


Phần thứ nhất
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI

LẦN THỨ XIV, NHIỆM KỲ 2010 – 2015

Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến phức tạp; kinh tế trong nước phục hồi chậm; các dự án lớn trên địa bàn tỉnh hầu hết đang trong giai đoạn triển khai, đòi hỏi cao cả về tiến độ, nguồn vốn, nguồn nhân lực, khối lượng giải phóng mặt bằng, đảm bảo an ninh, trật tự..., nhưng được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và sự phối hợp có hiệu quả của các cơ quan, đơn vị, Đảng uỷ Khối các cơ quan tỉnh đã tập trung đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, bám sát cơ sở, chọn đúng mũi đột phá, động viên đội ngũ cán bộ, đảng viên khắc phục khó khăn, vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ, đạt được kết quả quan trọng trên các lĩnh vực.

A- NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
I- LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN NHIỆM VỤ CHÍNH TRỊ
1- Đổi mới, nâng cao vai trò, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của các cơ quan, đơn vị trong Khối
Nhiệm kỳ qua, Đảng ủy Khối và các cấp ủy cơ sở đã bám sát các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, kế hoạch của Nhà nước, đặc biệt là sự điều hành đồng bộ, tập trung, quyết liệt, với quyết tâm chính trị cao của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh để tập trung lãnh đạo đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức nâng cao tinh thần trách nhiệm, phẩm chất và năng lực, làm tốt vai trò tham mưu, tổ chức thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, cơ chế, chính sách phát triển KT-XH. Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên các lĩnh vực được tăng cường. Công tác chỉ đạo, điều hành được đổi mới với tinh thần tập trung, đồng bộ, quyết liệt gắn với thực hiện mạnh mẽ công tác cải cách hành chính.
Nội dung, phương thức hoạt động của Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Đảng uỷ Khối tiếp tục được đổi mới, vừa đảm bảo tính toàn diện, vừa tập trung các mũi đột phá. Đã chủ động tham mưu Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ban hành quy định về chức năng, nhiệm vụ của Đảng uỷ Khối và ký các quy chế phối hợp để tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo một cách đồng bộ, toàn diện. Thường xuyên bám sát cơ sở, để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị, góp phần quan trọng vào việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội của tỉnh đó là: Nhiều chỉ tiêu đạt và vượt cao so với Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần XVII, như : tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thu nhập bình quân đầu người, thu ngân sách, huy động vốn đầu tư... Sản xuất công nghiệp có bước đột phá; nông nghiệp phát triển toàn diện; xây dựng nông thôn mới đạt kết quả bước đầu quan trọng; văn hoá xã hội tiếp tục phát triển; thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh, nâng cao đời sống nhân dân; giữ vững ổn định chính trị. Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thường xuyên được quan tâm và có nhiều đổi mới.
2- Lãnh đạo, chỉ đạo công tác cải cách hành chính đạt kết quả tích cực
Các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị triển khai thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 30c/NQ-CP của Chính phủ về chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2011-2020; lãnh đạo, chỉ đạo triển khai nghiêm túc Đề án 3713 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về đổi mới phương thức hoạt động của sở, ban, ngành... Tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả chủ trương của tỉnh về sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy theo hướng tinh, gọn và việc chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức theo Nghị định 158 của Chính phủ.
Việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức được quan tâm. Đặc biệt đã tham mưu Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ban hành chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành, tác nghiệp được hầu hết các cơ quan, đơn vị trong Khối chú trọng, đồng thời thực hiện quy trình quản lý chất lượng công việc theo tiêu chuẩn ISO... Tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và hiệu quả giao dịch “một cửa” ở các sở, ngành tiếp tục chuyển biến tích cực. Việc rà soát, cắt giảm thủ tục hành chính được tập trung chỉ đạo khá quyết liệt, tạo bước đột phá trong công tác cải cách hành chính của tỉnh.
3- Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện có hiệu quả Quy chế dân chủ cơ sở
Ban Thường vụ Đảng uỷ Khối chú trọng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng nhận thức cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động về thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở. Chỉ đạo các tổ chức đoàn thể tăng cường phối hợp với lãnh đạo chuyên môn trong tham gia quản lý; phát huy vai trò của đoàn viên, hội viên góp ý xây dựng các quy chế, quy định, chủ trương, kế hoạch công tác của cơ quan, đơn vị. Việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí có chuyển biến tích cực. Sự phối hợp giữa cấp ủy, lãnh đạo cơ quan với các tổ chức đoàn thể quần chúng khá nền nếp và hiệu quả; tuyệt đại bộ phận cán bộ, công chức, viên chức có ý thức xây dựng cơ quan, tự giác cam kết và thực hiện nghiêm các chỉ thị, kết luận của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về xiết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính, về thực hiện nếp sống văn hóa, văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội...
II- CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG
1- Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng; nâng cao trình độ lý luận, nhận thức cho cán bộ, đảng viên và quần chúng
Ban Chấp hành Đảng bộ Khối đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/ĐUK về tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức lối sống trong cán bộ, đảng viên. Nội dung giáo dục khá toàn diện, việc tuyên truyền, quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước có nhiều đổi mới, đảm bảo nghiêm túc, phù hợp với từng đối tượng; gắn học tập, nghiên cứu với thảo luận, xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện sát với tình hình thực tiễn của từng cơ quan, đơn vị. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng nhiệm kỳ qua đã góp phần làm cho tuyệt đại bộ phận đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức trong Đảng bộ nâng cao bản lĩnh chính trị, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; có tinh thần trách nhiệm, sáng tạo, đoàn kết, gương mẫu chấp hành các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; hăng hái làm việc, học tập, rèn luyện, hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao, tâm huyết vì sự phát triển đi lên của tỉnh nhà.
2- Công tác tổ chức, cán bộ, đảng viên có nhiều đổi mới
2.1- Công tác tổ chức:
Ban Chấp hành Đảng bộ Khối đã ban hành Nghị quyết số 11 về “Tiếp tục nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ”; tổ chức thành công Hội thi “Bí thư chi bộ” tạo sức lan tỏa trong toàn Đảng bộ; thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (Khoá XI).
Đặc biệt, sau kiểm điểm và gắn với thực hiện Nghị quyết số 11 của Ban Chấp hành Đảng bộ Khối về “nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ”, bước đầu tạo chuyển biến tích cực, nội dung sinh hoạt của các chi bộ đã có đổi mới theo hướng tăng cường sinh hoạt chuyên đề, cung cấp thông tin thời sự, chính sách cho đảng viên; tự phê bình, phê bình thẳng thắn, cởi mở hơn; nguyên tắc tập trung dân chủ được tôn trọng..., góp phần tích cực vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của các cơ quan, đơn vị.
2.2- Công tác cán bộ:
Ban Thường vụ Đảng uỷ Khối đã xây dựng, ký kết và triển khai thực hiện Quy chế phối hợp với Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Quy chế quản lý cán bộ, đảng viên diện BTV Đảng ủy Khối quản lý, Quy chế cán bộ Đoàn Khối và Quy chế tuyển dụng, đánh giá, đề bạt, bổ nhiệm luân chuyển cán bộ tại cơ quan Đảng uỷ Khối nhằm nâng cao tính chủ động, phát huy vai trò của Đảng ủy trong lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp thực hiện các khâu công tác cán bộ; đưa công tác đánh giá, nhận xét đảng viên trước khi bổ nhiệm vào các chức danh thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Ban Cán sự Đảng UBND tỉnh quản lý ngày càng đi vào nền nếp.
2.3- Công tác đảng viên:
Công tác phát triển đảng viên mới không ngừng được chú trọng, nâng cao về số lượng, đảm bảo chất lượng. Công tác quản lý, kiểm tra, giám sát đội ngũ cán bộ, đảng viên được tăng cường và từng bước đi vào nền nếp. Tiếp tục phối hợp tốt với các huyện, thành, thị ủy trong quản lý đảng viên thực hiện Quy định 76 của Bộ Chính trị.
Việc đánh giá, phân loại chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên hàng năm có nhiều đổi mới, được tiến hành nghiêm túc, đảm bảo quy trình, không chạy theo thành tích. Chất lượng tổ chức cơ sở đảng, đảng viên có chuyển biến tích cực và đồng đều giữa các đơn vị.
2.4- Công tác bảo vệ chính trị nội bộ:
Thực hiện nghiêm túc Quy định số 57 và Chỉ thị số 39 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ chính trị nội bộ, cấp uỷ các cấp đã tăng cường giáo dục, nâng cao ý thức cảnh giác của cán bộ, đảng viên trước âm mưu chiến lược “diễn biến hoà bình”, luận điệu phản động, chống phá của các thế lực thù địch.
3- Công tác kiểm tra, giám sát được tăng cường
Bám sát các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương và sự chỉ đạo của tỉnh, hàng năm, Ban Thường vụ và Ủy ban kiểm tra Đảng ủy Khối chỉ đạo các cấp ủy, ủy ban kiểm tra cơ sở xây dựng chương trình kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện chương trình kế hoạch đề ra; kịp thời phổ biến, quán triệt triển khai thực hiện nghiêm túc Điều lệ Đảng, các quy định, quyết định, văn bản hướng dẫn của cấp trên về công tác kiểm tra, giám sát. Qua đó nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy đối với công tác kiểm tra, giám sát.
Cấp ủy và ủy ban kiểm tra hai cấp đã đẩy mạnh kiểm tra chuyên đề, giám sát thường xuyên việc triển khai thực hiện các chủ trương của tỉnh. Giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm kỷ luật đối với đảng viên và tổ chức đảng kịp thời, đúng nguyên tắc, đảm bảo tính giáo dục, răn đe, phòng ngừa. Công tác kiểm tra, giám sát đã góp phần giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật của Đảng, phòng chống tham nhũng, lãng phí, hoàn thành chỉ tiêu, nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị.
4- Công tác dân vận và hoạt động các tổ chức đoàn thể có nhiều nổi bật
Chỉ đạo đẩy mạnh thực hiện quy chế dân chủ cơ sở gắn với công tác dân vận chính quyền đã góp phần tăng cường đoàn kết, nhất trí, đồng thuận trong Đảng bộ, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng. Động viên đoàn viên, hội viên tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động, từ đó xuất hiện nhiều mô hình, điển hình “Dân vận khéo” trên các lĩnh vực.
Duy trì chế độ làm việc thường xuyên giữa cấp uỷ với các tổ chức đoàn thể để chỉ đạo chương trình công tác, nội dung hoạt động... Các tổ chức đoàn thể đã bám sát các chủ trương, nhiệm vụ của Đảng bộ và đoàn thể cấp trên để triển khai, vận động thực hiện, đạt được nhiều kết quả nổi bật.
5- Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đạt kết quả tích cực
Đã tổ chức kiểm điểm nghiêm túc đối với tập thể Ban Thường vụ, từng cá nhân và người đứng đầu; tham gia các đoàn công tác của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ chỉ đạo kiểm điểm đối với tập thể, cá nhân lãnh đạo các đảng bộ, chi bộ cơ sở. Sau kiểm điểm đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng chương trình, kế hoạch hành động khắc phục khuyết điểm, hạn chế. Các đảng bộ, chi bộ cơ sở đã tập trung khắc phục khuyết điểm, hạn chế với bước đi, lộ trình và phân công trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức thực hiện cụ thể.
Ban Thường vụ, Ban Chấp hành, người đứng đầu các cấp uỷ luôn đề cao trách nhiệm, gương mẫu hoàn thành tốt nhiệm vụ được phân công. Thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy trách nhiệm, tính độc lập, chủ động, sáng tạo của từng tập thể, cá nhân. Hằng năm, Ban Thường vụ Đảng uỷ Khối thành lập các đoàn kiểm tra việc khắc phục những hạn chế, khuyết điểm tại các cơ quan, đơn vị.
6- Thực hiện Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị (khóa XI) về đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với Chỉ thị 35, Chỉ thị 33, Chỉ thị 20, Kết luận 05 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy chuyển biến tích cực.
Các tổ chức Đảng, đoàn thể trong Đảng bộ đã có sự tập trung cao trong tổ chức học tập, quán triệt, triển khai thực hiện Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị và các chuyên đề hằng năm. Ban Thường vụ Đảng uỷ Khối ban hành khá đồng bộ các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn; xây dựng kế hoạch, chương trình hành động thực hiện. Hầu hết các đơn vị thành lập bộ phận giúp việc, chọn điểm chỉ đạo là các chi bộ, phòng ban chuyên môn, tổ chức đoàn thể. Việc học tập, thảo luận chuyên đề hằng năm  trong các chi bộ, cơ quan, đoàn thể khá sâu sắc.
Xây dựng chuẩn mực đạo đức theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, phù hợp với thực tiễn của từng cơ quan, đơn vị. Thực hiện khá tốt việc nêu gương điển hình gắn với các ngày kỷ niệm của đất nước, quê hương, của ngành; tổ chức trang trọng Lễ vinh danh, biểu dương các điển hình trong việc học tập và làm theo Bác.
Để giúp cấp ủy tăng cường giám sát, đồng thời tạo thói quen “tự soi, tự sửa” của cán bộ, đảng viên, trong nhiệm kỳ Đảng bộ đã triển khai sử dụng Sổ tay “Làm theo gương Bác”, góp phần đưa việc học tập làm theo Bác trở thành nhiệm vụ thường xuyên, khá nghiêm túc, tự giác trong mỗi cán bộ, đảng viên và các tổ chức đảng cơ sở.
B- KHUYẾT ĐIỂM, HẠN CHẾ
I- TRONG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN NHIỆM VỤ CHÍNH TRỊ
1- Vai trò, hiệu quả lãnh đạo nhiệm vụ chính trị của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Đảng uỷ Khối tuy được nâng lên, nhưng nhìn chung chưa theo kịp yêu cầu phát triển của tỉnh. Năng lực lãnh đạo và vai trò trách nhiệm của một số cấp uỷ, tổ chức cơ sở đảng hạn chế. Quá trình tổ chức thực hiện một số chủ trương, nhiệm vụ kinh tế - xã hội thiếu thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, rút kinh nghiệm nên tiến độ còn chậm, hiệu quả chưa cao.
2- Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước còn nhiều hạn chế; công tác thanh tra, kiểm tra thiếu thường xuyên, không nghiêm túc, còn để xảy ra tiêu cực, vi phạm trên một số lĩnh vực; việc phối hợp giữa các ngành và giữa một số ngành với cấp uỷ, chính quyền địa phương chưa đồng bộ. Công tác dự báo trong hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện chính sách chưa tốt, còn bị động, lúng túng trước một số vụ việc phát sinh.
3- Vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc của Đảng uỷ Khối và cấp uỷ cơ sở đối với công tác cải cách hành chính chưa thường xuyên và quyết liệt. Hiệu quả cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư và sản xuất, kinh doanh nhìn chung chưa đáp ứng yêu cầu. Cải cách hành chính trong các cơ quan Đảng, đoàn thể chưa được chú trọng và chuyển biến chậm. Tinh thần trách nhiệm và năng lực của một số cấp uỷ, người đứng đầu chưa được phát huy đúng mức, bất cập so với yêu cầu chỉ đạo, điều hành quyết liệt của tỉnh. Quản lý công chức, công vụ còn nhiều hạn chế, một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức tinh thần trách nhiệm không cao, ý thức chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính chưa nghiêm, còn biểu hiện ngại khó, đùn đẩy, vô cảm, giao tiếp ứng xử thiếu văn hoá, nhũng nhiễu, gây phiền hà đối với người dân và doanh nghiệp, sa sút về phẩm chất đạo đức. Số cán bộ đảng viên vi phạm chủ trương, chính sách, Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước đến mức phải xử lý kỷ luật tăng so với nhiệm kỳ trước.
4- Vai trò, hiệu quả lãnh đạo của một số cấp uỷ trong triển khai, tổ chức thực hiện các kế hoạch, đề án KT - XH lớn của tỉnh còn hạn chế; một số cấp uỷ chưa thật sự chú trọng lãnh đạo nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, công tác tham mưu, chỉ đạo có mặt chưa sâu; việc đỡ đầu, giúp đỡ các xã theo chỉ đạo của UBND tỉnh cũng như trách nhiệm tham gia, phối hợp cùng Đảng bộ Khối có đơn vị chưa tích cực.
II- CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG
1- Việc tổ chức học tập, quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của Đảng ở một số đơn vị thực hiện có lúc còn chậm, chất lượng chưa cao; việc xây dựng chương trình hành động trên một số lĩnh vực thiếu kịp thời và chưa phù hợp thực tiễn.
Công tác giáo dục chính trị tư tưởng và quản lý đảng viên ở một số đơn vị chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến một bộ phận cán bộ, đảng viên ý thức trách nhiệm kém, cá biệt sa vào tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật.
Lãnh đạo, tổ chức thực hiện Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” ở một số đơn vị chưa đúng mức; thực hiện ghi Sổ tay “Làm theo gương Bác” chưa thường xuyên, ý thức tự giác chưa cao, thậm chí một số đảng viên còn đối phó; việc nêu gương ở một số cơ sở chưa được chú trọng.
Việc nắm bắt dư luận xã hội, diễn biến tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và quần chúng tiến hành chưa thường xuyên, kịp thời, tác dụng hạn chế.
2- Năng lực lãnh đạo và phương thức hoạt động của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Đảng uỷ Khối một số mặt chưa ngang tầm. Vai trò của các ban tham mưu giúp việc còn hạn chế. Kết quả chỉ đạo nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên có mặt chưa vững chắc. Việc lãnh đạo thực hiện Nghị quyết 11 của Ban Chấp hành Đảng bộ Khối chưa được tập trung quyết liệt, chuyển biến chậm. Một số tổ chức cơ sở đảng chưa duy trì chế độ sinh hoạt chi bộ, đảng uỷ theo quy định; sinh hoạt chuyên đề còn ít, chất lượng không cao; đấu tranh tự phê bình và phê bình còn hạn chế; vai trò lãnh đạo mờ nhạt. Công tác cán bộ ở một số đơn vị chưa thực sự dân chủ, tính thống nhất, đồng thuận chưa cao; chất lượng tuyển dụng, bố trí cán bộ có nơi chưa đáp ứng yêu cầu.
Việc đánh giá, phân loại tổ chức đảng và đảng viên hằng năm ở một số đơn vị thực hiện chưa nghiêm túc, còn biểu hiện hình thức.
Một số cấp ủy xem nhẹ công tác bảo vệ chính trị nội bộ, cá biệt có thời điểm thiếu đoàn kết, ảnh hưởng đến hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện nhiệm vụ của Đảng bộ, cơ quan, đơn vị. Một bộ phận đảng viên thiếu gương mẫu, tự giác trong tham gia sinh hoạt và thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú theo Quy định 76 của Bộ Chính trị.
3- Công tác kiểm tra, giám sát hiệu quả hạn chế, nhất là trong giám sát thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh và việc chấp hành kết luận, kiến nghị kiểm tra, giám sát tại một số đảng bộ, chi bộ cơ sở. Số vụ việc cán bộ, đảng viên vi phạm phải xử lý kỷ luật còn nhiều, nhưng việc đấu tranh, phát hiện qua công tác kiểm tra, giám sát của Đảng còn hạn chế; một số vụ việc còn nể nang, né tránh, xử lý không nghiêm hoặc để kéo dài, đùn đẩy trách nhiệm lên cấp trên. Trình độ, năng lực của một bộ phận cán bộ kiểm tra chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.
4- Một số cấp ủy thiếu quan tâm lãnh các tổ chức đoàn thể quần chúng. Vai trò của một số tổ chức đoàn thể chưa rõ nét, nhất là trong tham gia thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, phản biện xã hội, việc tổ chức các phong trào, hoạt động văn hoá, thể thao, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ, đoàn viên, hội viên…
C- NGUYÊN NHÂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
I- NGUYÊN NHÂN
1- Nguyên nhân của kết quả đạt được
Về khách quan: Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát và thường xuyên của Thường trực và Ban Thường vụ Tỉnh ủy; sự phối hợp, hướng dẫn, giúp đỡ của các ban xây dựng Đảng Tỉnh uỷ; Đảng đoàn Hội đồng nhân dân tỉnh, Ban cán sự Đảng Uỷ ban nhân dân tỉnh, lãnh đạo các sở, ban ngành, đoàn thể cấp tỉnh và của cấp uỷ, chính quyền các địa phương...
Về chủ quan: Chức năng, nhiệm vụ của Đảng ủy Khối và các đảng bộ, chi bộ cơ sở từng bước được cụ thể hóa, tạo thuận lợi cho hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo và mối quan hệ phối hợp công tác của các cấp ủy.
Trong lãnh đạo, chỉ đạo, các cấp uỷ đã bám sát các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, của Tỉnh uỷ và các quy định, hướng dẫn của cấp trên; tổ chức tốt nhiều phong trào thi đua và các cuộc vận động; tích cực, chủ động xây dựng các quy chế phối hợp, chọn đúng các mũi đột phá; phát huy dân chủ, tăng cường giữ gìn đoàn kết nội bộ, sự đồng thuận trong các cơ quan, đơn vị.
2- Nguyên nhân của hạn chế, khuyết điểm
Về khách quan: Công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực và các tệ nạn xã hội còn hạn chế… đã ảnh hưởng đến tư tưởng, niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tỉnh nhà có điểm xuất phát kinh tế thấp, kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ, nguồn lực đầu tư còn hạn chế, đặc biệt là đối với các công trình, dự án trọng điểm, trong lĩnh vực nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới.
Về chủ quan: Một số đồng chí trong BCH, Ban Thường vụ có lúc, có nơi chưa phát huy tốt vai trò trách nhiệm cá nhân; việc nắm bắt thực tiễn cơ sở của cá nhân uỷ viên Ban Chấp hành, các ban xây dựng Đảng còn hạn chế. Nhận thức về vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng ở một số cấp uỷ, thủ trưởng cơ quan, đơn vị và đảng viên chưa đầy đủ.
Sự phối hợp của Đảng ủy Khối với một số ban Tỉnh uỷ, ban cán sự Đảng, Đảng đoàn có lúc chưa chặt chẽ; công tác phối hợp với các huyện, thành phố, thị xã chưa thường xuyên và chưa thành quy chế cụ thể.
Công tác giáo dục chính trị tư tưởng ở một số đảng bộ, chi bộ chưa theo kịp yêu cầu nhiệm vụ. Việc lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng tuy có chú trọng nhưng chưa thường xuyên, một số cấp uỷ cơ sở còn lúng túng trong việc lựa chọn nội dung, hình thức sinh hoạt chuyên đề. Cán bộ làm công tác đảng hầu hết đều kiêm nhiệm, nhiệm vụ chuyên môn nhiều nên chưa dành nhiều thời gian cho công tác đảng; việc lãnh đạo của một số cấp uỷ chậm đổi mới, thậm chí vi phạm quy chế, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, gây ảnh hưởng tiêu cực đến đoàn kết nội bộ.
Công tác kiểm tra, giám sát có lúc, có nơi còn nặng về hình thức, chưa đi vào chiều sâu; nhận thức về công tác kiểm tra, giám sát của một số cấp uỷ chưa đầy đủ; nghiệp vụ kiểm tra của cơ sở còn hạn chế; kiểm tra, giám sát một số lĩnh vực chưa được quan tâm đúng mức,
II- MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
1- Thường xuyên quan tâm công tác giáo dục chính trị tư tưởng, giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ các cấp ủy, tổ chức đảng và cơ quan; quán triệt sâu sắc các chủ trương, chính sách, chỉ thị, nghị quyết của cấp trên để đề ra các chương trình hành động, kế hoạch thực hiện sát đúng với điều kiện thực tế và chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị.
2- Quan tâm công tác xây dựng Đảng trong các cơ quan, đơn vị, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, xác định rõ thực hiện nhiệm vụ chính trị là trọng tâm, công tác xây dựng Đảng là then chốt; đảng viên lãnh đạo phải gương mẫu, thực hiện tốt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng và các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng.
3- Xây dựng các nghị quyết chuyên đề để lãnh đạo từng mặt công tác, xác định đúng khâu trọng tâm và điểm chỉ đạo tạo bước đột phá. Xây dựng được các mô hình, điển hình để rút kinh nghiệm và phổ biến ra diện rộng. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo cần đổi mới tập trung, đồng bộ, quyết liệt và cụ thể hơn.
4- Thường xuyên thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở và quy chế hoạt động của cấp ủy, thực hiện tốt chế độ tự phê bình và phê bình, tạo sự thống nhất, phối hợp giữa cấp uỷ với lãnh đạo chuyên môn, nâng cao hiệu quả lãnh đạo của tổ chức Đảng và vai trò của các tổ chức quần chúng.
5- Gắn giáo dục với phân công, quản lý, kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên. Tổ chức các phong trào thi đua, tạo môi trường hoạt động thực tiễn để đánh giá đúng phẩm chất, năng lực của cán bộ đảng viên; có chính sách động viên, khen thưởng kịp thời.
6- Tăng cường phối hợp với các cấp, ngành, địa phương để nâng cao hiệu quả và tính toàn diện trong lãnh đạo, kiểm tra, đánh giá thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng bộ.
 
Phần thứ hai
PHƯƠNG HƯỚNG MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ NHIỆM KỲ 2015 - 2020
 
A-    PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU VÀ CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU
I- PHƯƠNG HƯỚNG CHUNG, MỤC TIÊU TỔNG QUÁT
Đổi mới hoạt động của Đảng uỷ Khối; tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của từng tổ chức cơ sở đảng; tập trung đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo chuyển biến mạnh mẽ về tinh thần trách nhiệm, năng lực chuyên môn, đạo đức công vụ, kỷ luật, kỷ cương hành chính của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong Khối ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ; thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở, tăng cường đoàn kết, đồng thuận; nỗ lực phấn đấu xây dựng Đảng bộ giữ vững danh hiệu trong sạch vững mạnh tiêu biểu, vì mục tiêu xây dựng Hà Tĩnh phát triển nhanh, bền vững theo hướng văn minh, hiện đại.
II- MỘT SỐ NỘI DUNG ĐỘT PHÁ
1. Tập trung đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở Đảng, trọng tâm là nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ với mục tiêu đảng viên tốt, cán bộ tốt, chi bộ trong sạch vững mạnh, lãnh đạo hiệu quả nhiệm vụ chính trị.
2. Đẩy mạnh cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính, nâng cao đạo đức công vụ, đổi mới phương thức hoạt động của các sở, ban, ngành, xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, vì dân, ngang tầm với yêu cầu phát triển của tỉnh.
3. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức để làm tốt vai trò tham mưu, tổ chức thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, cơ chế, chính sách, đề án phát triển KT-XH của tỉnh; tập trung mạnh mẽ cho các khâu đột phá mà Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII đề ra.
III- CHỈ TIÊU CHỦ YẾU:
- Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh giữ vững danh hiệu “Trong sạch vững mạnh tiêu biểu”; ít nhất có 60% tổ chức cơ sở đảng đạt “Trong sạch vững mạnh”, trong đó có ít nhất 20% “Trong sạch vững mạnh tiêu biểu”;
- Hằng năm có 100% cơ quan sở, ban, đoàn thể cấp tỉnh thuộc Đảng bộ hoàn thành nhiệm vụ, trong đó có trên 30% hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ;
- Có trên 95% đảng viên “Hoàn thành tốt nhiệm vụ”;
- Có trên 95% cán bộ, công chức, viên chức đạt danh hiệu “Lao động tiên tiến”; 15% được công nhận “Chiến sỹ thi đua cơ sở”;
- Các đoàn thể quần chúng của Đảng bộ đạt “Vững mạnh xuất sắc”; 100% gia đình cán bộ, đảng viên đạt “Gia đình văn hoá”; không có cán bộ, đảng viên vi phạm ATGT, tham gia đánh bạc, tệ nạn ma tuý;
- Trong nhiệm kỳ kết nạp trên 700 đảng viên mới.
B- NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN
I- LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN NHIỆM VỤ CHÍNH TRỊ
1. Quán triệt và tổ chức thực hiện tốt các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị. Tăng cường lãnh đạo, giáo dục, động viên cán bộ đảng viên, công chức, viên chức tích cực hoàn thành chức trách, nhiệm vụ, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của các cơ quan, đơn vị trong Khối.
2. Đổi mới phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Đảng bộ Khối; ban hành các nghị quyết chuyên đề, đồng thời tham mưu Thường trực, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Đảng đoàn HĐND, Ban Cán sự Đảng UBND ban hành các chủ trương, thông báo, kết luận nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm của các cấp uỷ cơ sở, tập thể lãnh đạo và người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong phối hợp thực hiện công tác xây dựng Đảng, lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, thực hiện quy chế dân chủ, cải cách hành chính và giáo dục, quản lý cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức.
3. Bám sát các chủ trương, nhiệm vụ trọng tâm của tỉnh để phát động các phong trào thi đua; tuyên truyền, vận động, tổ chức thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII, trọng tâm là:
- Tiếp tục rà soát, bổ sung, xây dựng các quy hoạch đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. Đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, từng bước hiện đại; phát triển hệ thống đô thị và các khu công nghiệp, cụm công nghiệp.
- Tích cực thực hiện tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng bền vững, đẩy mạnh phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, chú trọng các ngành công nghiệp hỗ trợ; phát triển nền nông nghiệp toàn diện, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp xanh theo hướng hiện đại, công nghệ cao, xây dựng nông thôn mới bền vững; đầu tư phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động các loại hình dịch vụ, thương mại, du lịch, tài chính, tín dụng; tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư; phát triển kinh tế đối ngoại. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về tài nguyên, đất đai, khoáng sản, bảo vệ môi trường và ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu
- Đẩy mạnh xã hội hóa và nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa - xã hội, phát huy truyền thống văn hóa, xây dựng con người Hà Tĩnh phát triển toàn diện. Đổi mới căn bản và phát triển toàn diện giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; nâng cao chất lượng công tác bảo vệ chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Đẩy mạnh giải quyết việc làm, giảm nghèo, thực hiện tốt các chế độ, chính sách, đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội; tích cực ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin, nâng cao chất lượng hoạt động thông tin và truyền thông; nâng cao chất lượng các hoạt động nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất và đời sống.
- Tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả tham mưu và tổ chức thi hành pháp luật; thực hiện cải cách tư pháp; tăng cường năng lực hoạt động của các cơ quan trong khối nội chính; tích cực đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các khiếu nại, tố cáo của tổ chức, công dân.
- Củng cố, kiện toàn, nâng cao hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể. Tiếp tục thực hiện tốt Quyết định 217-QĐ/TW và Quyết định 218-QĐ/TW của Bộ Chính trị khóa XI về “Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội”, “Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền”.
4. Lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh cải cách hành chính, tập trung nâng cao tinh thần trách nhiệm, đạo đức công vụ, kỷ luật, kỷ cương hành chính, xây dựng nếp sống văn hoá, văn minh trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; vai trò nêu gương của cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu các cấp.
Lãnh đạo đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của các cơ quan; cải tiến chế độ hội họp, quy trình xử lý công việc. Triển khai thực hiện nghiêm túc Đề án đổi mới phương thức hoạt động của sở, ban, ngành... nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả chỉ đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân tỉnh. Chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, giám sát thực hiện chủ trương của tỉnh về cắt giảm 1/3 thành phần hồ sơ và 1/2 thời gian giải quyết thủ tục hành chính tại các cơ quan, đơn vị.
Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ, năng lực, kỹ năng công tác, thực sự tiên phong, gương mẫu, tâm huyết, sâu sát cơ sở, gần dân, có trách nhiệm, ý thức kỷ luật cao. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính; xử lý kịp thời, nghiêm minh các trường hợp vi phạm đạo đức công vụ. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý, điều hành trong các cơ quan quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ. Tham mưu rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển nguồn nhân lực, các chính sách đối với cán bộ, công chức, đáp ứng yêu cầu mới của thời kỳ CNH – HĐH và hội nhập quốc tế.
5. Tăng cường phối hợp với Ban cán sự Đảng UBND tỉnh, Thường trực và các ban HĐND tỉnh, thủ trưởng cơ quan các sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh và các huyện, thành, thị ủy để tham gia lãnh đạo, kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của các cơ quan, đơn vị và đội ngũ cán bộ, đảng viên; phối hợp tham gia tổ chức phong trào thi đua yêu nước và công tác Thi đua - khen thưởng trong khối các cơ quan cấp tỉnh.
II- CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG
1- Lãnh đạo công tác giáo dục chính trị, tư tưởng
Tăng cường lãnh đạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) “một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, với mục tiêu là xây dựng Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Đảng bộ và các đảng bộ, chi bộ cơ sở thực sự trong sạch, vững mạnh; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là tập thể lãnh đạo và người đứng đầu cơ quan, đơn vị ngang tầm cả về năng lực, phẩm chất, tinh thần trách nhiệm để có thể đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ của tỉnh trong giai đoạn cách mạng mới.
Tiếp tục đẩy mạnh việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, xác định đây là công việc quan trọng thường xuyên của cấp ủy, cơ quan, đơn vị và mỗi cán bộ, đảng viên. Chú trọng nâng cao ý thức, tinh thần trách nhiệm, đưa việc “làm theo” vào chương trình, kế hoạch hành động của các đơn vị.
Tăng cường giáo dục đạo đức cách mạng, lối sống cho cán bộ, đảng viên theo Nghị quyết 10-NQ/ĐUK của BCH Đảng bộ Khối. Tập trung đổi mới việc học tập, quán triệt, triển khai các chỉ thị, nghị quyết; gắn học tập với thảo luận và xây dựng chương trình hành động, kế hoạch thực hiện của mỗi cơ quan, đơn vị. Tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả chương trình giáo dục lý luận chính trị hằng năm cho các đối tượng, triển khai các lớp cập nhật kiến thức mới cho cán bộ chủ chốt và cấp uỷ cơ sở. Thường xuyên nắm bắt diễn biến tư tưởng, dư luận trong cán bộ, đảng viên và quần chúng; kịp thời tham mưu đề xuất cho cấp uỷ các phương án xử lý những vấn đề phát sinh.
2- Công tác tổ chức, cán bộ, đảng viên
Chỉ đạo các cấp ủy cơ sở sau đại hội Đảng kịp thời xây dựng chương trình hoạt động toàn khóa, quy chế làm việc, phân công nhiệm vụ, đảm bảo sự thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo và hoạt động của tổ chức Đảng. Đẩy mạnh cải cách hành chính trong Đảng, đổi mới phong cách, tác phong, lề lối làm việc, phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành trên tinh thần thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao trách nhiệm tập thể, cá nhân, trước hết là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị.
Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 11-NQ/ĐUK của BCH Đảng bộ Khối (khoá XIV) về tiếp tục nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ với mục tiêu đảng viên tốt, cán bộ tốt, chi bộ trong sạch vững mạnh. Tập trung chỉ đạo thực hiện đúng, đầy đủ, sáng tạo các nội dung sinh hoạt chi bộ theo Hướng dẫn 09 của Ban Tổ chức Trung ương. Tăng cường tự phê bình và phê bình, giám sát cán bộ đảng viên, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, xây dựng đoàn kết nội bộ, nâng cao văn hoá trong sinh hoạt Đảng. Phát huy vai trò giám sát, phản biện, tham gia xây dựng Đảng của các tổ chức đoàn thể.
Nâng cao hiệu quả thực hiện các quy chế phối hợp với Ban Tổ chức Tỉnh uỷ, Ban cán sự Đảng UBND tỉnh và lãnh đạo chuyên môn ở cơ sở trong công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, đề bạt, bổ nhiệm, bố trí cán bộ. Tiếp tục làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cấp ủy viên, bí thư chi bộ để thực hiện ngày càng tốt hơn công tác xây dựng Đảng ở cơ sở.
Quan tâm đúng mức công tác phát triển đảng viên mới theo hướng coi trọng chất lượng, đảm bảo số lượng. Tăng cường giáo dục, rèn luyện, quản lý, kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên; phối hợp với cấp uỷ các huyện, thành phố, thị xã để nâng hiệu quả giám sát cán bộ, đảng viên trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ và việc tham gia sinh hoạt, gương mẫu chấp hành nghĩa vụ công dân nơi cư trú theo Quy định 76 của Bộ Chính trị. Thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; chú trọng xây dựng mối đoàn kết thống nhất trong tổ chức đảng và cơ quan Nhà nước, không để xảy ra tình trạng nội bộ mất đoàn kết, khiếu nại, tố cáo vượt cấp, phát tán các loại văn bản, tài liệu trái quy định.
3- Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng
Tiếp tục nâng cao nhận thức của cấp ủy, đặc biệt là người đứng đầu cấp ủy về vai trò của công tác kiểm tra, giám sát; đưa công tác kiểm tra, giám sát thành hoạt động thường xuyên và chủ động của các tổ chức đảng.
Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp, đặc biệt là ở cấp cơ sở. Tập trung đi sâu kiểm tra, giám sát việc triển khai, tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, đề án của Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh và việc chấp hành kết luận, kiến nghị sau kiểm tra, giám sát; việc sửa chữa, khắc phục hạn chế, khuyết điểm theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI); việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ đảng viên và vai trò nêu gương của người đứng đầu; chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; về đạo đức công vụ, kỷ luật, kỷ cương hành chính; thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, lãng phí; kịp thời phát hiện để phòng ngừa, ngăn chặn có hiệu quả các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển  hoá” trong cán bộ, đảng viên…
Kiện toàn kịp thời ủy ban kiểm tra; bồi dưỡng nghiệp vụ công tác kiểm tra, giám sát cho đội ngũ cấp ủy viên và ủy viên ủy ban kiểm tra các cấp. Xây dựng đội ngũ cấp ủy và ủy ban kiểm tra có trình độ năng lực chuyên môn, có phẩm chất đạo đức, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm.
Xây dựng các quy chế phối hợp giữa công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với hoạt động của Thanh tra nhà nước, công tác Nội chính, thanh tra nhân dân nhằm tăng cường vai trò của các cấp, các ngành trong nắm bắt, xử lý thông tin, sai phạm của tổ chức đảng và cán bộ đảng viên; đồng thời phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể quần chúng trong giám sát, phát hiện để phòng ngừa vi phạm.
4- Lãnh đạo công tác dân vận và hoạt động của các tổ chức đoàn thể
Đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác dân vận chính quyền, trước mắt kiện toàn đội ngũ cán bộ lãnh đạo và chuyên viên kiêm nhiệm công tác dân vận tại các sở, ban, ngành theo Quyết định 290-QĐ/TW của Bộ Chính trị (Khóa X) và Quyết định 202-QĐ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy (Khoá XVI) về “Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị”; vận dụng mô hình “Dân vận khéo” vào hoạt động quản lý, chỉ đạo, điều hành của các cơ quan, đơn vị. Phát huy mạnh mẽ vai trò của các tổ chức quần chúng trong tham gia quản lý, giám sát thực hiện các quy chế, quy định, nhất là quy chế dân chủ ở cơ sở, công tác cải cách hành chính, thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí; thực hiện nếp sống văn minh, xây dựng cơ quan, công sở văn hóa.
Ban Thường vụ Đảng uỷ Khối thường xuyên phối hợp với Đảng đoàn các đoàn thể cấp tỉnh để lãnh đạo, chỉ đạo Đoàn Thanh niên, Công đoàn viên chức, Hội Cựu chiến binh Khối thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị.

Phát huy truyền thống gần 60 năm xây dựng và phát triển; với thành tích, kết quả đạt được, những bài học kinh nghiệm đã tổng kết trong nhiệm kỳ qua là tiền đề, động lực quan trọng để Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh lãnh đạo, giáo dục, động viên đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức quyết tâm vươn lên, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Khối lần thứ XV, giữ vững danh hiệu “Trong sạch, vững mạnh tiêu biểu”, ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ mới, góp phần tích cực vào sự nghiệp đổi mới, phát triển của tỉnh nhà.


 
BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn