Năm là, Chiến lược quốc gia về nhân tài: đặt “trọng dụng” ở vị trí then chốt.
Cạnh tranh giữa các quốc gia ngày nay, xét đến cùng, là cạnh tranh về nhân tài. Kết luận về Chiến lược quốc gia thu hút, trọng dụng và phát triển nhân tài thể hiện bước chuyển căn bản: từ tư duy thu hút, đãi ngộ sang tư duy giao việc lớn, trao quyền, bảo đảm điều kiện và đánh giá bằng giá trị cống hiến. Trọng dụng không đồng nghĩa với bổ nhiệm chức vụ, cũng không nhất thiết phải vào biên chế.
Nội hàm của Chiến lược là mở rộng không gian tìm kiếm nhân tài: Từ nhà trường, viện nghiên cứu, doanh nghiệp, khu vực công và khu vực tư, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế; đồng thời lấy bồi dưỡng nhân tài trong nước làm nền tảng lâu dài. Không thể đòi hỏi sản phẩm đột phá mà giao việc không rõ, quyền không đủ, nguồn lực không bảo đảm, rồi quy trách nhiệm cho người thực hiện. Phải dứt khoát loại bỏ tư tưởng đố kỵ, ngại người giỏi hơn mình, giữ người tài cho riêng cơ quan mình. Hiệu quả chính sách phải đo bằng sản phẩm, công nghệ, sáng kiến cụ thể.
Sáu là, kinh tế - xã hội năm 2027: năm tăng tốc, bứt phá, chất lượng tăng trưởng đo bằng đời sống nhân dân.
Năm 2026, năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV, trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, phức tạp, đất nước đã đạt được những thành tựu rất quan trọng. Tăng trưởng GDP 9 tháng đầu năm ước đạt 9,01%, nhịp tăng trưởng cải thiện rõ rệt qua từng quý, riêng quý III đạt 9,95%; chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 12,3%; tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký đạt trên 50 tỷ USD, tăng 76,4%; kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tăng 24,5% so với cùng kỳ. Những kết quả đó thể hiện sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng, sự quản lý, điều hành quyết liệt của Nhà nước, cùng khát vọng, quyết tâm và tinh thần cống hiến của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Tuy vậy, Trung ương cũng thẳng thắn chỉ rõ: Chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước còn hạn chế; giải ngân vốn đầu tư công, xử lý các dự án tồn đọng còn chậm; nguồn lực đã bố trí nhưng chậm đưa vào sử dụng.
Năm 2027 được xác định là năm tăng tốc, bứt phá, phấn đấu tăng trưởng cao, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số, đi đôi với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn và an ninh năng lượng. Tăng trưởng phải dựa trên năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; khơi thông đầu tư tư nhân, phát triển doanh nghiệp trong nước; đầu tư công dẫn dắt đầu tư xã hội; giữ nghiêm kỷ luật tài chính, chống lãng phí vốn, đất đai, tài sản và cơ hội.
Điều có ý nghĩa sâu sắc nhất là quan điểm được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặc biệt nhấn mạnh: chất lượng tăng trưởng không chỉ đo bằng GDP, mà bằng việc làm, thu nhập, giá cả ổn định, an sinh xã hội, giáo dục, y tế, nhà ở của người dân. Phát triển nhanh phải đi liền với phát triển bền vững; tăng trưởng kinh tế phải gắn với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, giữ vững quốc phòng, an ninh và mở rộng quan hệ đối ngoại, giữ môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển.
Phương pháp, cách thức tổ chức thực hiện: Nghị quyết đúng mới là một nửa
Thực tiễn cho thấy, khâu yếu nhất trong lãnh đạo của chúng ta nhiều năm qua không nằm ở ban hành nghị quyết, mà ở tổ chức thực hiện. Có tình trạng nghị quyết đã có, thể chế đã đủ, nhưng cấp dưới không nắm, không quán triệt, không triển khai, để thời gian trôi đi. Có nơi coi quán triệt nghị quyết chỉ là việc tuyên truyền của ngành tuyên giáo. Có nơi học xong không biết mình phải làm gì khác trước. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ rõ: “Nghị quyết đúng mới là một nửa; nửa còn lại, nửa khó hơn, là hành động”(1). Tinh thần ấy đòi hỏi toàn Đảng phải chuyển mạnh từ “ban hành” sang “thực thi”, từ “quán triệt” sang “hành động”, từ “báo cáo” sang “kết quả”. Để Nghị quyết Trung ương 4 thực sự trở thành bước đột phá, cần thực hiện đồng bộ những phương pháp sau.
Thứ nhất, quán triệt thực chất, đi thẳng vào điểm mới và việc phải làm. Bí thư cấp ủy trực tiếp quán triệt, không giao khoán. Nội dung quán triệt phải ngắn gọn, đi thẳng vào điểm mới, việc phải làm của từng cấp, từng ngành; gắn với đối thoại, giải đáp những vấn đề thực tiễn đặt ra. Phải đổi mới phương thức: kết hợp học tập trực tiếp với nền tảng số, bảo đảm đến tận chi bộ, đảng viên, kể cả ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Theo yêu cầu của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, sau học tập, mỗi cán bộ, đảng viên phải trả lời được hai câu hỏi: mình phải làm gì và làm khác trước ở chỗ nào. Đó là thước đo của quán triệt thực chất.
Thứ hai, cụ thể hóa, tích hợp và thể chế hóa kịp thời. Các cấp ủy rà soát toàn bộ chương trình thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV và các nghị quyết Hội nghị Trung ương 2, Trung ương 3 để tích hợp nội dung Hội nghị Trung ương 4, xử lý chồng chéo, xác định thứ tự ưu tiên. Chương trình hành động phải ngắn gọn, khả thi, theo nguyên tắc “sáu rõ”: rõ việc, rõ người, rõ thời hạn, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền và rõ tiêu chí đánh giá. Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy Chính phủ khẩn trương lãnh đạo thể chế hóa, nhất là các cơ chế về kiểm soát xung đột lợi ích, chính sách đặc thù cho nhân tài, phân cấp gắn với nguồn lực. Khi pháp luật, cơ chế được ban hành, các cấp phải nhanh chóng quán triệt, đưa vào thực hiện, không để văn bản nằm trên giấy. Việc đã rõ, thuộc thẩm quyền phải làm ngay; việc vượt thẩm quyền phải báo cáo ngay, kèm phương án xử lý.
Thứ ba, làm ngay những việc có tính “đòn bẩy”. Không chờ đủ mọi điều kiện mới bắt đầu. Ngay trong những tháng cuối năm 2026 và đầu năm 2027, cần tập trung vào những việc tạo chuyển biến dây chuyền: Rà soát vị trí việc làm và khoảng trống năng lực; xác định sản phẩm chủ yếu của từng vị trí lãnh đạo, quản lý; bảo đảm mỗi vị trí người đứng đầu có phương án cán bộ kế cận; làm sạch, cập nhật cơ sở dữ liệu cán bộ. Mỗi bộ, ngành, địa phương xác định danh mục nhiệm vụ, “bài toán lớn” cần chuyên gia và công khai để người tài biết tìm đến. Cùng với đó, hoàn thành ở mức cao nhất nhiệm vụ năm 2026; rà soát từng chỉ tiêu, từng động lực tăng trưởng: chậm ở đâu, vì sao, ai chịu trách nhiệm, bao giờ khắc phục.
Thứ tư, đề cao trách nhiệm người đứng đầu, gắn kết quả thực hiện nghị quyết với đánh giá cán bộ. Người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm trực tiếp về kết quả thực hiện Nghị quyết ở nơi mình phụ trách. Đã nhận việc phải làm đến cùng; đã cam kết phải thực hiện. Kết quả thực hiện nghị quyết phải trở thành căn cứ quan trọng để đánh giá, xếp loại tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên. Không chấp nhận tình trạng “nói nhiều, làm ít”, “nóng trên, lạnh dưới”, “trên bảo dưới không nghe”.
Thứ năm, kiểm tra, giám sát ngay từ đầu, đo bằng kết quả thực tế. Kiểm tra, giám sát không đợi đến khi sơ kết, tổng kết, mà phải đồng hành ngay từ khi triển khai. Kiểm tra bằng kết quả thực tế, không nặng hồ sơ, giấy tờ. Câu hỏi kiểm tra phải cụ thể: Bao nhiêu vị trí đã rõ sản phẩm; bao nhiêu vị trí đứng đầu đã có phương án kế cận; cán bộ không đáp ứng yêu cầu đã được bố trí thế nào; người tài đã được giao việc gì; bao nhiêu điểm nghẽn đã được tháo gỡ; người dân đã thấy điều gì đổi khác. Ứng dụng chuyển đổi số, dữ liệu để theo dõi, đánh giá liên tục tiến độ, chất lượng thực hiện.
Thứ sáu, làm tốt công tác tư tưởng, truyền thông chính sách, tạo đồng thuận xã hội. Nghị quyết chỉ đi vào cuộc sống khi được cán bộ, đảng viên thấm nhuần và nhân dân đồng tình, ủng hộ. Công tác tuyên truyền phải chuyển mạnh từ “thông tin một chiều” sang “truyền thông chính sách”, giải thích rõ vì sao phải làm, làm thì ai được lợi, thay đổi gì trong đời sống người dân, doanh nghiệp. Phát huy vai trò của báo chí, các nền tảng số và đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên; kịp thời biểu dương cách làm hay, mô hình tốt, đồng thời phản ánh, phê phán những nơi chậm trễ, hình thức. Chủ động nắm bắt tư tưởng, tâm trạng xã hội, kịp thời giải đáp những băn khoăn, nhất là về công tác cán bộ, về đảng viên làm kinh tế, về chính sách nhân tài. Kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch lợi dụng việc triển khai Nghị quyết để xuyên tạc, gây hoài nghi, chia rẽ. Mỗi cán bộ, đảng viên phải là một “tuyên truyền viên” bằng chính hành động gương mẫu của mình.

Tác phẩm: Khoảnh khắc thiêng liêng và khát vọng - Tác giả: Đặng Thiện Chân (Hà Tĩnh)
Nguồn: nhiepanhdoisong.vn
Sức mạnh huy động nguồn lực: Khơi thông mọi nguồn lực cho phát triển
Điểm xuyên suốt, có tính đột phá của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 là tư duy về nguồn lực. Nguồn lực của đất nước không chỉ là vốn, đất đai, tài nguyên, mà trước hết và quan trọng nhất là con người, là thể chế, là khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, là văn hóa và lòng dân. Trong đó, con người là trung tâm, thể chế là điều kiện tiên quyết, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo là động lực chính, lòng dân là cội nguồn sức mạnh. Hội nghị Trung ương 4 tác động đồng thời vào tất cả các tầng nguồn lực ấy và tạo ra sự cộng hưởng giữa chúng.
Một là, nguồn lực con người: giải phóng năng lực của đội ngũ cán bộ và nhân tài. Khi cán bộ được đánh giá bằng sản phẩm, được bảo vệ khi dám đổi mới vì lợi ích chung, sức sáng tạo của hàng triệu cán bộ, đảng viên sẽ được giải phóng. Khi người tài được giao việc lớn, được trao quyền và bảo đảm điều kiện, chất xám của đất nước, kể cả trí thức người Việt Nam ở nước ngoài, sẽ được quy tụ. Đây là nguồn lực lớn nhất, bền vững nhất, không bao giờ cạn kiệt nếu biết khơi dậy. Một quyết định đúng, kịp thời của một cán bộ dám nghĩ, dám làm có thể khơi thông nguồn lực hàng nghìn tỷ đồng đang bị “đóng băng”; ngược lại, sự né tránh, đùn đẩy có thể làm lãng phí cơ hội phát triển của cả một địa phương.
Hai là, nguồn lực thể chế: biến thể chế từ “điểm nghẽn của điểm nghẽn” thành lợi thế cạnh tranh. Phân cấp, phân quyền gắn với nguồn lực; thể chế hóa nhanh chủ trương của Đảng; kiểm soát quyền lực và xung đột lợi ích minh bạch... tất cả nhằm tạo ra một môi trường thể chế thông thoáng, ổn định, dự báo được. Đó chính là “nguồn lực mềm” có sức lan tỏa lớn nhất, quyết định việc các nguồn lực vật chất có được huy động và sử dụng hiệu quả hay không. Kinh nghiệm cho thấy, rất nhiều dự án, nguồn vốn không thiếu tiền mà thiếu cơ chế, thiếu người dám quyết. Tháo gỡ thể chế là giải phóng nguồn lực.
Ba là, nguồn lực kinh tế: khơi thông vốn, đất đai, tài sản và cơ hội. Quy định về đảng viên tham gia đầu tư, kinh doanh, cùng với các nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, mở ra không gian mới cho một bộ phận lực lượng có trình độ, có uy tín tham gia trực tiếp vào phát triển kinh tế. Đầu tư công giữ vai trò dẫn dắt, “vốn mồi” kích hoạt đầu tư xã hội. Xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng, kéo dài, đưa nguồn lực đã bố trí vào sử dụng là giải phóng một khối tài sản rất lớn đang bị lãng phí. Chống lãng phí vốn, đất đai, tài sản và cơ hội phải được coi là một mặt trận, ngang tầm với chống tham nhũng.
Bốn là, nguồn lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tăng trưởng nhanh và bền vững không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào vốn và lao động giá rẻ. Kết hợp Nghị quyết Trung ương 4 với Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, đội ngũ nhân tài được trọng dụng sẽ trực tiếp tạo ra năng suất mới, công nghệ mới, sản phẩm mới. Dữ liệu trở thành tư liệu sản xuất mới, đồng thời là công cụ để lãnh đạo, quản trị, đánh giá cán bộ minh bạch, khách quan.
Năm là, nguồn lực văn hóa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Văn hóa là nền tảng tinh thần, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển. Tinh thần của Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam cần được gắn kết chặt chẽ với việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4: xây dựng văn hóa trong Đảng, văn hóa công vụ, văn hóa liêm chính, văn hóa trọng dụng người tài, văn hóa dám đổi mới. Phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, của doanh nhân, trí thức, đồng bào ở trong nước và ở nước ngoài, để mọi người Việt Nam đều thấy mình là chủ thể, có trách nhiệm và có phần trong sự phát triển của đất nước.
Sáu là, nguồn lực niềm tin: nguồn lực của mọi nguồn lực. Nguồn lực quý giá nhất, quyết định nhất chính là niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ, với con đường phát triển. Niềm tin xã hội là một loại "vốn" đặc biệt; khi được củng cố, nó nhân lên sức mạnh của mọi nguồn lực khác; khi bị suy giảm, mọi chính sách đều trở nên khó thực hiện. Vì vậy, quản trị niềm tin xã hội phải trở thành một yêu cầu xuyên suốt trong lãnh đạo, quản lý. Niềm tin không đến từ khẩu hiệu, mà đến từ sự nêu gương của cán bộ, từ tính minh bạch của quyết sách, từ những thay đổi mà người dân cảm nhận được trong cuộc sống hằng ngày. Khi người dân thấy thủ tục nhanh hơn, cán bộ tận tụy hơn, cơ hội công bằng hơn, đời sống tốt hơn, thì sức mạnh của lòng dân sẽ trở thành nguồn lực vô tận, như lịch sử dân tộc đã nhiều lần chứng minh.
Vai trò của công tác tư tưởng trong việc đưa nghị quyết vào cuộc sống
Công tác tư tưởng phải đi trước một bước, mở đường cho hành động. Hệ thống tuyên giáo các cấp xác định việc tuyên truyền, quán triệt và triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt của những tháng cuối năm 2026 và năm 2027. Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với các ban, bộ, ngành, cơ quan báo chí hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc; biên soạn tài liệu ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện; tổ chức truyền thông chính sách đa nền tảng; nắm bắt kịp thời dư luận xã hội để tham mưu xử lý những vấn đề phát sinh.
Đặc biệt, báo chí, xuất bản phải là lực lượng xung kích: Không chỉ đưa tin về hội nghị quán triệt, mà theo dõi việc thực hiện đến cùng; phát hiện, cổ vũ những tập thể, cá nhân dám nghĩ, dám làm, những người tài được trọng dụng và tạo ra sản phẩm cụ thể; đồng thời phản ánh thẳng thắn, xây dựng những nơi còn trì trệ, hình thức. Mỗi câu chuyện thành công được lan tỏa sẽ là một lời khẳng định sức sống của Nghị quyết, góp phần xây dựng "sức đề kháng" tư tưởng trong xã hội trước các thông tin sai lệch, xuyên tạc.
Lịch sử Đảng ta đã nhiều lần chứng minh: ở những thời điểm bước ngoặt, khi Đảng dám nhìn thẳng vào sự thật, dám tự đổi mới, tự chỉnh đốn, khơi dậy được sức mạnh của nhân dân, thì cách mạng Việt Nam lại có những bước phát triển vượt bậc. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV mang tinh thần tiếp nối của khát vọng đưa đất nước vươn mình và là quyết tâm chính trị cao để biến khát vọng thành hiện thực bằng một Đảng mạnh, một bộ máy hiệu quả, một đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, uy tín và một xã hội được khơi thông mọi nguồn lực. Giá trị của Nghị quyết sẽ được đo bằng sự chuyển biến của tổ chức đảng và bộ máy, bằng năng suất, sức cạnh tranh của nền kinh tế và trên hết, bằng những việc thiết thực được giải quyết cho nhân dân. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã khẳng định: lấy lợi ích và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo; “nơi nào dân chưa thấy chuyển biến thì nơi đó chưa hoàn thành nhiệm vụ”(2). Mỗi cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên hãy tự đặt cho mình câu hỏi: sau Nghị quyết này, ở nơi mình phụ trách, người dân sẽ thấy điều gì đổi khác? Trả lời được câu hỏi ấy bằng kết quả cụ thể, chúng ta sẽ biến Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 thành bước đột phá thực sự, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững, vững vàng tiến vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.
--------------
(1) Xem: GS, TS Tô Lâm: “Chủ trương đúng phải trở thành năng lực phát triển thực chất, được kiểm chứng qua hiệu quả hoạt động của bộ máy hệ thống chính trị, tạo sức cạnh tranh của nền kinh tế và nâng cao đời sống nhân dân”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 16-10-2026, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/chu-truong-dung-phai-tro-thanh-nang-luc-phat-trien-thuc-chat-duoc-kiem-chung-qua-hieu-qua-hoat-dong-cua-bo-may-tao-suc-canh-tranh-cua-nen-kinh-te-tang
(2) Xem: GS, TS Tô Lâm: “Chủ trương đúng phải trở thành năng lực phát triển thực chất, được kiểm chứng qua hiệu quả hoạt động của bộ máy hệ thống chính trị, tạo sức cạnh tranh của nền kinh tế và nâng cao đời sống nhân dân”, tlđd.