Sự kế thừa, bổ sung và phát triển tư duy xây dựng, chỉnh đốn Đảng qua các Hội nghị Trung ương 4 từ khóa XI đến khóa XIV
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI: Từ nhận diện nguy cơ đến tập trung giải quyết những vấn đề cấp bách, gắn chỉnh đốn Đảng với trách nhiệm của cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, ra đời khi công cuộc đổi mới đạt nhiều thành tựu quan trọng nhưng công tác xây dựng Đảng đứng trước không ít khó khăn, thách thức. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả người giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý; biểu hiện quan liêu, tham nhũng, lãng phí, cơ hội, thực dụng, chủ nghĩa cá nhân đã ảnh hưởng đến uy tín, sức chiến đấu của Đảng và niềm tin của nhân dân.
Điểm nổi bật trước hết là bản lĩnh nhìn thẳng vào sự thật, nhận diện những nguy cơ từ bên trong đối với một đảng cầm quyền. Tự chỉnh đốn vì vậy không đơn thuần nhằm sửa chữa khuyết điểm, mà còn là yêu cầu tự bảo vệ, tự phát triển, giữ vững vai trò lãnh đạo và củng cố niềm tin của nhân dân. Trên cơ sở ấy, Nghị quyết xác định ba vấn đề cấp bách: ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp Trung ương; xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu trong quan hệ với tập thể. Trong đó, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt và cấp bách nhất. Ba vấn đề liên hệ chặt chẽ, cùng ảnh hưởng đến hiệu lực lãnh đạo, cầm quyền.
Bước phát triển đáng chú ý là đặt trách nhiệm xây dựng, chỉnh đốn Đảng trước hết vào các cấp lãnh đạo, nhất là cán bộ giữ chức vụ cao. Nếu người đứng đầu thiếu tự giác, không dám nhận trách nhiệm, kiểm điểm dễ hình thức và khuyết điểm khó được khắc phục triệt để. Về phương pháp, Nghị quyết kết hợp giáo dục, rèn luyện với kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm; phát huy tự phê bình và phê bình như phương thức để mỗi tổ chức, cá nhân tự nhận diện, sửa chữa khuyết điểm. Đấu tranh với cái sai không nhằm phủ nhận thành tựu, mà để củng cố đoàn kết trên cơ sở nguyên tắc, nâng cao sức chiến đấu. Đồng thời, yêu cầu làm rõ thẩm quyền và trách nhiệm người đứng đầu tạo tiền đề cho việc hoàn thiện cơ chế phân định trách nhiệm, kiểm soát quyền lực và giải trình ở các giai đoạn sau.
Có thể khái quát, dấu ấn của Hội nghị Trung ương 4 khóa XI là chuyển nhận thức về nguy cơ suy thoái thành quyết tâm chính trị và chương trình chỉnh đốn có trọng tâm; đặt vấn đề đạo đức và trách nhiệm cán bộ trong một chỉnh thể; khẳng định tự chỉnh đốn là điều kiện bảo vệ bản chất cách mạng, uy tín và sức mạnh của Đảng cầm quyền.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII: Từ xác định những vấn đề cấp bách đến nhận diện có hệ thống biểu hiện suy thoái, chủ động ngăn ngừa “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
Kế thừa Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”” đánh dấu bước phát triển về chiều sâu nhận thức, tính cụ thể trong nhận diện nguy cơ và tính đồng bộ của giải pháp.
Điểm mới nổi bật là chuyển từ nhận diện khái quát tình trạng suy thoái sang chỉ rõ 27 biểu hiện thuộc ba nhóm: suy thoái về tư tưởng chính trị; suy thoái về đạo đức, lối sống; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Việc cụ thể hóa này chuyển yêu cầu mang tính nguyên tắc thành căn cứ để tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa, kiểm điểm, đánh giá, kiểm tra và giám sát; khắc phục tình trạng thấy rõ nguy cơ chung nhưng khó nhận diện biểu hiện cụ thể trong tổ chức và bản thân mình. Chiều sâu của bước phát triển nằm ở nhận thức về tính quá trình và sự tác động qua lại giữa các biểu hiện suy thoái. Theo đó, chỉnh đốn Đảng không thể chỉ xử lý hành vi vi phạm đã xảy ra, mà phải chủ động nhận diện biến đổi trong nhận thức, động cơ, thái độ, hành động; phòng ngừa từ sớm, từ xa, không để hạn chế nhỏ trở thành sai phạm nghiêm trọng.
Một bước phát triển khác là kết hợp chặt chẽ giáo dục, rèn luyện, tự phê bình và phê bình với hoàn thiện cơ chế, chính sách, kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Cách tiếp cận này phản ánh nhận thức đầy đủ hơn về mối quan hệ giữa phẩm chất cá nhân và môi trường tổ chức. Vì vậy, phòng, chống suy thoái phải tác động đồng thời vào nhận thức, động cơ, hành vi và những điều kiện làm phát sinh sai phạm; kết hợp giáo dục với cơ chế ràng buộc, tự giác với kiểm tra, giám sát.
Nghị quyết tiếp tục đề cao trách nhiệm nêu gương, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu. Nêu gương không chỉ là phẩm chất đạo đức cá nhân, mà còn là phương thức lãnh đạo có sức thuyết phục, tạo chuẩn mực hành động và lan tỏa trong tổ chức. Đồng thời, vai trò giám sát của nhân dân được gắn chặt hơn với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, góp phần phát hiện quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, nâng cao tính khách quan của kiểm tra, giám sát.
Như vậy, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII phát triển tư duy từ xác định vấn đề cấp bách đến nhận diện có hệ thống biểu hiện, nguyên nhân và nguy cơ; từ chú trọng tự giác tu dưỡng sang kết hợp giáo dục, thể chế, kiểm tra, kỷ luật và giám sát xã hội. Đó là bước tiến về tính chủ động, tính hệ thống và khả năng phòng ngừa trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Kết luận Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII: Từ chỉnh đốn trong Đảng đến xây dựng, chỉnh đốn đồng bộ Đảng và hệ thống chính trị, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”
Kết luận số 21-KL/TW của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII về “Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”” đánh dấu bước phát triển về phạm vi, đối tượng, phương thức và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Nổi bật trước hết là mở rộng từ xây dựng, chỉnh đốn trong Đảng sang xây dựng, chỉnh đốn đồng bộ Đảng và hệ thống chính trị. Do đó, chất lượng lãnh đạo, cầm quyền không chỉ phụ thuộc vào sự trong sạch của tổ chức đảng, mà còn gắn với năng lực thể chế hóa, quản lý, điều hành, phối hợp và phục vụ nhân dân. Những bất cập về tổ chức bộ máy, phân công trách nhiệm, phối hợp công tác, quản lý nguồn lực và thực thi công vụ có thể làm giảm hiệu quả lãnh đạo, đồng thời tạo điều kiện phát sinh tham nhũng, tiêu cực, lãng phí. Sự trong sạch, vững mạnh của Đảng phải được thể hiện trong chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị và hiệu quả giải quyết vấn đề của đất nước, của nhân dân.
Điểm phát triển thứ hai là nhấn mạnh sự thống nhất giữa “xây” và “chống”: xây dựng là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; phòng, chống suy thoái, tham nhũng, tiêu cực là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, cấp bách. “Chống” nhằm phát hiện, ngăn chặn, xử lý sai phạm, bảo vệ kỷ luật, kỷ cương và sự trong sạch của Đảng; “xây” nhằm củng cố nền tảng tư tưởng, bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, năng lực tổ chức, văn hóa liêm chính và môi trường để cán bộ phấn đấu, cống hiến. Nếu chỉ chú trọng “chống”, chỉnh đốn dễ thiên về xử lý hậu quả mà chưa tạo nền tảng phát triển; nếu chỉ chú trọng “xây”, thiếu kiên quyết trong “chống” sẽ làm suy giảm tính nghiêm minh và sức chiến đấu. Hai mặt phải bổ sung, thúc đẩy lẫn nhau: loại bỏ nhân tố làm suy yếu đồng thời bồi đắp nhân tố tạo sức mạnh của Đảng.
Đáng chú ý, Kết luận nhấn mạnh yêu cầu không chỉ ngăn chặn, đẩy lùi mà còn kiên quyết xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái. Tinh thần ấy thể hiện quyết tâm đưa yêu cầu chỉnh đốn thành hành động và trách nhiệm cụ thể. Đồng thời, vai trò của nhân dân được khẳng định không chỉ với tư cách đối tượng phục vụ, mà còn là chủ thể giám sát, phản ánh, góp ý, đánh giá hoạt động của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên.
Có thể khái quát, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII đánh dấu sự phát triển từ chỉnh đốn trong Đảng đến xây dựng, chỉnh đốn đồng bộ Đảng và hệ thống chính trị; từ ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái đến kết hợp xây dựng, phòng ngừa và xử lý nghiêm; từ chú trọng sự trong sạch của tổ chức đến gắn sự trong sạch với hiệu quả vận hành và phục vụ nhân dân. Đó là tiền đề quan trọng để tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền trong giai đoạn mới.
Các đại biểu tham dự Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV
Ảnh: TTXVN.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV: Từ ngăn chặn suy thoái đến nâng cao năng lực tự đổi mới, tự chỉnh đốn, tự hoàn thiện, xây dựng Đảng là đạo đức, là văn minh
Kế thừa các nghị quyết, kết luận Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới” đặt ra những yêu cầu phát triển cao hơn, toàn diện hơn trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn mới. Nếu khóa XI tập trung giải quyết những vấn đề cấp bách, khóa XII cụ thể hóa biểu hiện suy thoái, khóa XIII mở rộng xây dựng, chỉnh đốn đồng bộ Đảng và hệ thống chính trị, thì khóa XIV tiếp tục phát triển tư duy theo hướng không chỉ ngăn ngừa, khắc phục những nhân tố làm suy yếu, mà còn chủ động bồi đắp sức mạnh, trí tuệ, bản lĩnh, năng lực cầm quyền và khả năng tự hoàn thiện của Đảng. Có thể khái quát trên sáu phương diện chủ yếu.
Một là, từ yêu cầu thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn đến nâng cao năng lực tự hoàn thiện, coi đó là nhu cầu tự thân và năng lực nội sinh của Đảng.
Tự đổi mới, tự chỉnh đốn là yêu cầu xuyên suốt, nhưng trong điều kiện mới không thể chỉ tiến hành những đợt chỉnh đốn khi đã xuất hiện hạn chế, khuyết điểm. Một quy trình đúng quy định nhưng thiếu hiệu quả vẫn cần đổi mới; một phương thức lãnh đạo không còn phù hợp phải được điều chỉnh; một cán bộ không vi phạm nhưng chưa đáp ứng nhiệm vụ phải được bồi dưỡng hoặc bố trí phù hợp. Theo đó, tự đổi mới, tự chỉnh đốn, tự hoàn thiện phải trở thành hoạt động thường xuyên, được bảo đảm bằng cơ chế tự kiểm tra, tự đánh giá, tiếp nhận phản hồi và tổng kết thực tiễn. Mỗi khuyết điểm được khắc phục phải tạo tiến bộ về năng lực; mỗi bài học thực tiễn cần chuyển hóa thành sự hoàn thiện về cơ chế, quy trình, phương thức lãnh đạo. Chiều sâu của bước phát triển này là chuyển từ tư duy sửa chữa khiếm khuyết sang chủ động nâng cao chất lượng và sức sống của Đảng; từ chỉnh đốn khi có vấn đề sang hình thành năng lực tự hoàn thiện liên tục, bền vững.
Hai là, từ xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh đến gắn chặt với nâng cao chất lượng lãnh đạo, cầm quyền và năng lực kiến tạo phát triển đất nước.
Trong điều kiện cầm quyền, sự trong sạch, vững mạnh không chỉ thể hiện ở phẩm chất chính trị, đạo đức, tổ chức, kỷ luật, mà còn phải được kiểm nghiệm bằng năng lực hoạch định đường lối, chất lượng quyết sách, hiệu quả tổ chức thực hiện và kết quả xây dựng, phát triển đất nước. Năng lực lãnh đạo, cầm quyền bao quát toàn bộ quá trình nhận diện vấn đề, dự báo xu thế, xác định mục tiêu, lựa chọn phương án, thể chế hóa, huy động nguồn lực, tổ chức thực hiện và điều chỉnh. Mỗi khâu có thể tạo động lực hoặc trở thành điểm nghẽn nếu thiếu tầm nhìn, năng lực và trách nhiệm thực thi.
Vì vậy, xây dựng Đảng phải gắn với nâng cao tư duy chiến lược, năng lực tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận, dự báo, hoạch định đường lối và tổ chức thực hiện. Chất lượng tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên không chỉ được đánh giá qua việc chấp hành quy định, hoàn thành quy trình, mà còn qua khả năng giải quyết vấn đề, tháo gỡ điểm nghẽn, sử dụng hiệu quả nguồn lực, thúc đẩy phát triển và nâng cao đời sống Nhân dân. Bước phát triển quan trọng là gắn xây dựng Đảng với năng lực lãnh đạo phát triển, lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị và hiệu quả phụng sự nhân dân làm những căn cứ quan trọng kiểm nghiệm năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.
Ba là, từ xây dựng Đảng về đạo đức đến xây dựng Đảng là đạo đức, là văn minh, nâng cao văn hóa lãnh đạo, cầm quyền và tính liêm chính.
Xây dựng Đảng về đạo đức không thể chỉ dừng ở giáo dục, rèn luyện phẩm chất từng cá nhân, mà phải làm cho chuẩn mực đạo đức và văn hóa lãnh đạo, cầm quyền thấm sâu vào cơ chế, quy trình, hoạt động của tổ chức. Liêm chính không chỉ là đức tính cán bộ, mà phải trở thành đặc tính của tổ chức; trách nhiệm không chỉ là lời cam kết, mà phải thể hiện trong từng công việc; văn minh không chỉ ở phương tiện hiện đại, mà trước hết ở tư duy khoa học, trí tuệ, tầm nhìn trong các quyết sách, phương pháp dân chủ, minh bạch, tôn trọng thực tiễn và nhân dân. Đạo đức xác định mục tiêu, động cơ và giới hạn của việc sử dụng quyền lực; văn minh nâng cao trí tuệ, trình độ và phương pháp thực hiện mục tiêu ấy. Chiều sâu của bước phát triển là chuyển từ nhấn mạnh tu dưỡng cá nhân sang đồng thời xây dựng văn hóa liêm chính và trình độ văn minh của tổ chức, làm cho đạo đức cách mạng và phương pháp lãnh đạo khoa học trở thành những thuộc tính bền vững của Đảng.
Bốn là, từ đề cao trách nhiệm cán bộ đến kiểm soát quyền lực gắn với phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực thi.
Kiểm soát quyền lực là yêu cầu khách quan đối với đảng cầm quyền. Quyền lực thiếu ràng buộc bằng trách nhiệm, kỷ luật, giám sát dễ bị lạm dụng; ngược lại, trách nhiệm không gắn với thẩm quyền rõ ràng dễ dẫn đến né tránh, đùn đẩy hoặc khó xác định người chịu trách nhiệm. Vì vậy, kiểm soát quyền lực phải đồng bộ với phân cấp, phân quyền, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của từng tổ chức, cá nhân; làm rõ trách nhiệm trong từng khâu tham mưu, đề xuất, thẩm định, quyết định, tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá. Cần khắc phục tình trạng quyền hạn tập trung nhưng trách nhiệm phân tán, tập thể quyết định nhưng không xác định được trách nhiệm cá nhân. Bước phát triển về tư duy là chuyển từ đề cao trách nhiệm và phòng ngừa lạm quyền sang kiểm soát toàn bộ quá trình thực thi quyền lực, bảo đảm quyền lực được trao đúng, sử dụng đúng, kiểm soát chặt chẽ và gắn với giải trình thực chất.
Năm là, từ xử lý vi phạm, khắc phục hậu quả đến chủ động phòng ngừa từ sớm, từ xa, kết hợp giữ nghiêm kỷ cương với khuyến khích, bảo vệ đổi mới, sáng tạo.
Phòng, chống suy thoái, tham nhũng, tiêu cực chỉ bền vững khi không dừng ở phát hiện, xử lý vi phạm, mà chủ động nhận diện và loại bỏ nguyên nhân, điều kiện phát sinh sai phạm. Sau mỗi vụ việc, cùng với xử lý trách nhiệm cá nhân, cần rà soát bất cập trong cơ chế, chính sách, quy trình quản lý, giám sát để ngăn ngừa tái diễn. Phòng ngừa hiệu quả đòi hỏi kết hợp giáo dục đạo đức, xây dựng văn hóa liêm chính với minh bạch hóa quy trình, kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình. Tuy nhiên, giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương phải đồng thời tạo môi trường để cán bộ có năng lực, bản lĩnh, trách nhiệm chủ động đổi mới vì lợi ích chung. Những nhiệm vụ mới, khó, chưa có tiền lệ đòi hỏi sự tìm tòi, quyết đoán và chấp nhận rủi ro được kiểm soát. Điểm phát triển là kết hợp phòng ngừa, kiểm soát, xử lý sai phạm với kiến tạo môi trường cống hiến, để kỷ cương vừa bảo vệ sự trong sạch, vừa nâng cao năng lực hành động của Đảng.
Sáu là, từ phát huy vai trò giám sát của nhân dân đến coi sự tham gia, phản hồi và mức độ hài lòng của nhân dân là nguồn lực quan trọng để Đảng tự đổi mới, tự chỉnh đốn, tự hoàn thiện.
Bản chất cách mạng và mục tiêu phụng sự nhân dân đòi hỏi Đảng giữ vững quan hệ mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Vì vậy, tiếp nhận ý kiến phải gắn với xác minh, xử lý, phản hồi và điều chỉnh thực chất; chuyển từ lắng nghe sang giải quyết, từ tiếp thu sang sửa chữa, từ phát hiện hạn chế sang xác định trách nhiệm và hành động. Chất lượng cuộc sống, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, sự đồng thuận và niềm tin xã hội là những căn cứ quan trọng kiểm nghiệm hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Sự trong sạch, vững mạnh của Đảng phải được thể hiện bằng kết quả phát triển, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị và lợi ích thiết thực nhân dân thụ hưởng. Chiều sâu của bước phát triển này là làm cho quan hệ mật thiết với nhân dân không chỉ là yêu cầu về bản chất, mục tiêu và phương pháp lãnh đạo, mà còn trở thành cơ chế thường xuyên để Đảng tự nhận diện, tự điều chỉnh, tự hoàn thiện mình.
Nhìn tổng thể, các nghị quyết, kết luận Hội nghị Trung ương 4 từ khóa XI đến khóa XIV thể hiện sự phát triển tư duy xây dựng, chỉnh đốn Đảng ngày càng chủ động, toàn diện, hệ thống và thực chất: Từ giải quyết vấn đề cấp bách đến nhận diện, phòng ngừa có hệ thống nguy cơ; từ chỉnh đốn trong Đảng đến xây dựng đồng bộ Đảng và hệ thống chính trị; từ ngăn chặn suy thoái đến nâng cao năng lực tự hoàn thiện; từ kiểm soát quyền lực đến kết hợp kỷ cương với thúc đẩy sáng tạo; từ xây dựng Đảng về đạo đức đến hướng tới xây dựng Đảng là đạo đức, là văn minh. Điểm xuyên suốt là kiên định để đổi mới đúng hướng, đổi mới để phát huy bản chất cách mạng; chỉnh đốn để bảo vệ sự trong sạch, xây dựng để nâng cao năng lực, tự hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Đó là sự thống nhất giữa kiên định và sáng tạo, giữa xây dựng và chỉnh đốn, giữa giữ vững bản chất cách mạng với nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, để Đảng luôn xứng đáng với trách nhiệm trước Tổ quốc và nhân dân./.